The security diy

The security diy
..

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

Làm sao chọn mua một DVR? DVR về hệ thống nén phần cứng và nén phần mềm.


Để chọn mua một DVR ,bạn cần biết điều gì?
Trước hết nếu bạn là người dùng,đi tìm mua một đầu ghi DVR,bạn sẽ cần đặt câu hỏi để người bán cho bạn biết.Tại sao phải hỏi? vì thật sự nếu người bán thiết bị hiểu rõ về các DVR thì họ mới có thể bán cho bạn thiết bị thật sự đúng yêu cầu và tốt.Nếu không hiểu rõ,họ sẽ nói vòng vo- cốt yếu sao để bạn mua là được,còn thiết bị có tốt hoặc đáp ứng được nhu cầu bạn cần hay không thì...không cần biết đến.

Hỏi về Frame Rate
Rất nhiều người bán nói rằng hệ thống thiết bị ghi DVR của họ chạy trong chế độ "thời gian thực" (realtime) Hãy chắc chắn rằng bạn hiểu điều này (thời gian thực) bởi vì nó có nghĩa rất khác nhau đối với những hình ảnh khác nhau trong các tình huống khác nhau. Trước hết, Real Time (có thể hiểu giống như xem truyền hình trực tiếp) ấn định ché độ khoảng 30 khung hình ( 30fps) mỗi giây trong hệ NTSC 25 khung hình mỗi giây ở hệ PAL .Một thiết bị ghi có 30 khung hình mỗi giây và có bốn kênh, là không cung cấp thời gian thực (trừ khi bạn đang chạy chỉ duy nhất một camera), phần mềm cho phép bạn thay đổi chế-độ khung hình (Frame Rate) trên mỗi camera, nhiều thiết bị DVR khác không cho phép. Một thiết bị DVR chế độ 30 FPS với 4 Camera, thông thường sẽ cung cấp 7,5 khung hình mỗi giây đồng hồ cho mỗi camera, hoặc như vậy chỉ gọi là một phần tư thời gian thực (1/4 realtime).

Để có được chế độ thời gian thực trên 4 camera, bạn cần thiết bị DVR có 120 khung hình mỗi giây. Cũng có thể công việc quan sát của bạn không yêu cầu thực hiện thời gian thực ,nhưng bạn nên chú ý xem hệ thống ghi hình bạn đang dự định mua là một thiết bị nén phần mềm , hay thiết bị nén phần cứng . Không có gì sai trái với các hệ thống nén phần mềm nhưng bạn sẽ phải hy-sinh tỷ lệ khung hình để có được độ phân giải cao hơn ... và đó là một thực tế.

Ngoài ra, hệ thống nén phần mềm yêu cầu Video Cards hoạt động nhiều (nặng nề) hơn CPU và bộ nhớ RAM , vì chế độ nén phần mềm sẽ phải ăn cắp bớt "chu kỳ đồng hồ" từ cả ba phần trên để thực hiện hiệu suất (xung-ép) , ngược lại trong khi các hệ thống nén phần cứngbộ vi xử lý riêng của nó ngay trên bản-mạch. Trong hầu hết các trường hợp sự khác biệt rất lớn về hiệu suất nén phần cứng là ít tốn kém và rất đáng kinh ngạc .

Hầu hết các công ty sx,khi xây dựng hệ thống nén phần mềm đều chủ yếu chỉ vì muốn đơn giản về chi phí thấp để có được giá cả cạnh tranh? ..... nén phần mềm cũng là một giải pháp, và vì là công nghệ lâu đời hơn nên luôn có những khác biệt thấp hơn so với công nghệ mới hơn. DVR nén phần cứng hoặc nén phần mềm là một lựa chọn mang dấu hiệu của thời đại.

Hỏi về sự khác biệt trong chế-độ Live, Tốc độ View, Playback và ghi-hình.
Trên nhiều thiết bị ghi DVR, tốc độ ghi và tốc độ phát lại sẽ khác nhau từ quan điểm đến thực hành. Kiểm tra các thông số kỹ thuật này một cách cẩn thận, nếu bạn chưa biết hãy xem bài về "DVR và độ phân giải" đăng trên blog wordpress antoanvn, nếu bạn không nghe được sự giải thích đúng đắn,hãy tìm một nhà cung cấp khác có thể trả lời minh bạch về sự khác biệt Live-View-Playback-Record ,để tránh mua phải các thiết bị DVR lỗi thời .

Hỏi về DVR có Dual Stream.
DUAL STREAM là gì ?Dual Stream có nghĩa là một kênh hình ảnh mã hóa video từ đầu vào, và đầu ra là 2 dòng dữ liệu bit độc lập như thể hiện trong hình:

Độ phân giải, tỷ lệ khung, tỷ lệ bit và các thông số khác của dòng bit trên 2 đầu ra có thể được đặt cho phép dùng độc lập. Hai đầu ra cùng lúc này có thể đáp ứng theo 2 nhu cầu khác nhau, ví dụ, một cho lưu trữ đĩa cứng và một cho tải trên mạng truyền dẫn.

Hỏi về Tính năng Điều chỉnh năng động của các tham số mã hóa
*Tuy nhiên tính năng này thường hiểu bởi các kỵ-sư chuyên ngành,người bán có thể không cần hiểu rõ.
Với tính năng DAEP (Dynamic Adjustment of Encoding Parameters) ,người dùng có thể điều chỉnh các thông số mã hóa một cách năng động ,tính năng này có thể có hiệu lực thi hành cùng một lúc mà không cần tạm dừng hệ thống hoặc khởi động lại mạng truyền và thu của hình ảnh âm thanh.
Trong hệ thống giám sát, khi theo dõi cho các cảnh tĩnh, video có thể được ghi lại với tỷ lệ bit thấp thông qua việc giảm thiểu độ phân giải, hình ảnh chất lượng tỷ lệ với bit, và tỷ lệ với khung hình , trong khi hình ảnh của toàn-cảnh thay đổi sẽ đòi hỏi tỷ lệ độ phân giải phải cao hơn cùng với tỷ lệ khung hình, video tất cả đều cao hơn ... để có được dòng video chất lượng cao.

Kể từ khi có DAEP các thông số trên có thể được tự động thay-đổi,tự động sửa đổi, hình ảnh có thể được duy trì liên tục mà không cần chuyển đổi các tập tin thường xuyên. Tính năng DAEP đúng như tên gọi là sự năng động điều chỉnh không chỉ đáp ứng yêu cầu về hình ảnh chất lượng cao ở những khoảnh khắc giám sát quan trọng, mà còn tiết kiệm không gian đĩa và băng thông mạng.

Hệ thống nén phần cứng so với hệ thống nén phần mềm


Dựa trên hệ thống DVR-PC (PC-based DVR systems) đã trở thành sự lựa chọn cho các nhà tích hợp hệ thống giám sát và người sử dụng do khả năng mở rộng tính linh hoạt cao hơn, và dễ dàng tùy biến. Tuy nhiên, lựa chọn một hệ thống nén phần cứng hoặc hệ thống nén phần mềm có thể cho ra một sự khác biệt lớn.

Về hệ thống ghi hình qua máy vi tính PC-DVR

Hệ thống PC-DVR (PC-based DVR systems ) kêu gọi các nhà tích hợp hệ thống và người sử dụng vì tính linh hoạt và khả năng mở rộng độc đáo và của hệ thống. Bằng cách thêm các thẻ nén (compression cards), hệ thống có thể hỗ trợ các kênh video, và chức năng mong muốn có thể đạt được bằng cách thêm vào các bo mạch con . Ngoài ra, SDK cung cấp cho phép hệ thống DVR được tùy chỉnh để đáp ứng yêu cầu cụ thể. Một máy tính dựa trên hệ thống DVR chụp video giám sát trong thời gian thực và lưu nó vào ổ cứng của bạn.
Để làm điều này, nó có để thu thập các tín hiệu, và nén nó và lưu nó vào một tập tin video trên ổ đĩa của bạn. Mỗi thẻ ghi hình với số lượng nhất định của khung hình mỗi kênh (ví dụ, một thẻ 16-kênh để chụp 100 khung hình mỗi giây trong tổng số, chụp 6,25 cho mỗi kênh, trong khi một khung hình được 400 fps, có thể chụp 25 khung cho mỗi kênh). Sau đó, hệ thống phải nén nó và lưu nó. Hoặc là bằng cách sử dụng một quá trình phần mềm, mà bản thân thẻ DVR không thể tự làm điều này.
Điều quan trọng cần lưu ý rằng một hệ thống PC-DVR có thể được thực hiện bằng cách sử dụng một thẻ nén phần mềm (software compression card) hoặc thẻ nén phần cứng (hardware compression card). Như tên gọi "Software Compression System" cho thấy một hệ thống nén phần mềm (SCS) sử dụng các thẻ (card) để nắm bắt được tín hiệu hình ảnh (video capture), và dùng phần mềm để nén nó. Đó chính là CPU và bộ nhớ RAM trong máy tính của bạn phải làm công việc này, mà đi kèm là chi phí cao cho các nguồn tài nguyên hệ thống của bạn.

Một hệ thống nén phần cứng "hardware compression system" (HCS) không chỉ sử dụng thẻ để nắm bắt được tín hiệu hình ảnh , nhưng đồng thời cũng dùng thẻ này để nén các dữ liệu hình. HCS sẽ có một hoặc nhiều chipset trên một thẻ , có trách nhiệm để nắm-bắt hình-ảnh,chụp hình-ảnh , sau đó là nén và lưu hình ảnh (video)này vào ổ cứng.

Hệ thống nén Phần mềm
Vấn đề lớn nhất của hệ thống nén phần mềm DVR là quá trình tải qua CPU . Điều này có nghĩa rằng CPU của máy tính của bạn đã bận rộn với những thứ khác, đồng thời được tăng thêm phần việc sử dụng bởi hệ thống DVR. Điều này có thể không là một vấn đề với các hệ thống DVR chạy ở tốc độ khung hình thấp, nhưng với hệ thống nhanh hơn, với nhu cầu hiện thời gian thực, bộ vi xử lý có 400 hình ảnh 4CIF nén mỗi giây, CPU có thể nhanh chóng bị tăng hoạt động lên mức tối đa. vấn đề do đâu ? Có nhiều lý do.

Đầu tiên, là không phải tất cả các khung hình đều cùng một kích thước, cũng như không phải tất cả yêu cầu cần làm luôn cùng một số lượng công việc để xử lý, có nghĩa là khối lượng công việc thay đổi liên tục bất kể các mã codec nén được sử dụng. Ngoài ra, CPU luôn bận rộn xử lý phần khác như GUI (giao diện người dùng đồ họa) thay đổi, chức năng phát lại, phát hiện chuyển động và hoạt động của mạng, rất nhiều việc mà ở đây chỉ mới liệt kê vài phần việc mà thôi. Với CPU luôn sử dụng cho yêu cầu nặng-nề như vậy, khi gặp một số khung hình lớn liên tục trong một dòng liên có thể gây ra vấn đề nghiêm trọng dễ gặp sự cố.

Thông thường bạn chỉ thấy những hoạt động bình thường của máy tính của bạn. Một quá trình chỉ đơn giản là chờ đợi lần lượt xuất qua CPU, vì vậy có lúc bạn sẽ thấy một cửa sổ kéo dài thêm thời gian để vẽ lại, hoặc màn hình sẽ mất nhiều thời gian để làm mới lại ( refresh). Điều này thường không phải là một vấn đề.
Nhưng với hoạt động của DVR, như sự ùn tắc giao thông( xử lý dữ liệu) này "là tin xấu". Vì Ở 400 khung hình trên giây (độ phân giải 4CIF), máy tính của bạn bị quá tải khá nhanh chóng và bắt đầu rớt hình. Khung hình thả có nghĩa là khoảng trống hoặc tạo khung đen cho đoạn video ghi lại và thiếu các thao tác âm thanh. Bạn không có thể nhận thấy các lần bị quá tải thường xuyên, nhưng nếu CPU của bạn giảm xuống mỗi lần nhiều hơn một ít, bạn sẽ nhìn thấy các sự cố đó. Trong trường hợp nặng, những ách tắc giao thông gây ra cho máy tính của bạn và có thể làm cho hệ thống máy tính nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn.

Bởi vì một hệ thống DVR nén phần cứng nén ( hardware compression DVR system ) sử dụng các chip riêng của mình cho công việc nén, các phần việc tải trên CPU và bộ nhớ RAM của máy tính sẽ thấp hơn rất nhiều, những kiểu sự cố gặp khung hình đen trôi-thả, hầu như không bao giờ xảy ra trên các hệ thống này.

Hệ thống nén phần cứng
Một hệ thống DVR nén phần cứng (Hardware Compression DVR System) có một hoặc nhiều chipset trên thẻ có trách nhiệm để chụp hình, nén và lưu video vào ổ cứng. Điều này có nghĩa là hệ thống có hiệu suất tốt cùng với việc dùng CPU máy tính mức thấp và yêu cầu rất ít về tài nguyên bộ nhớ RAM. Vì lý do này một hệ thống nén phần cứng DVR là ổn định hơn so với hệ thống nén phần mềm DVR .
Và bởi vì các thẻ nén phần cứng thường sử dụng chipset hiệu suất cao để nén các khung hình , quá trình nén sẽ không bị ảnh hưởng hoặc bị gián đoạn bởi các chương trình khác. Nó mang lại hình ảnh video xuyên-suốt và đẹp hơn cho khách hàng.
Trong khi đó, nhờ với việc chiếm tỷ lệ dùng CPU thấp, hệ thống nén phần cứng có thể dễ dàng thực hiện các chức năng bổ sung bằng cách sử dụng tài nguyên hệ thống phụ có sẵn của máy tính, chẳng hạn như phần mềm phân tích thông minh, phần mềm nhận diện bảng số xe và như vậy. Hiệu suất mạng kết nối có thể được tốt hơn, đặc biệt là về tốc độ truyền tải nhanh chóng và đa kênh kết nối đồng thời.
Hệ thống nén phần cứng có thể dễ dàng hỗ trợ lên đến 64 kênh trong một máy tính dùng cho theo dõi thời gian thực và ghi lại thời gian thực (mỗi kênh là 25fps PAL hoặc 30fps trong NTSC). Hầu hết các hệ thống nén dùng phần mềm hỗ trợ chỉ có 16 kênh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài đăng nổi bật

Hướng dẫn lắp đặt hệ thống báo cháy Nohmi Japan.

Hệ thống báo cháy tự động Nohmi của nhà sx Nohmi Bosai Japan là một trong những hệ thống báo cháy tiêu chuẩn quốc tế, loại 24V đáp ứ...